Ngày 28/6/1898, Toàn quyền Đông Dương Paulmer đã ký quyết định thành lập 6 trạm khí tượng đầu tiên ở Đông Dương, trong đó có Trạm Khí tượng Cao Bằng. Từ những ngày đầu, công việc quan trắc đã đầy gian nan khi phương tiện đo đạc chỉ là những dụng cụ thô sơ, cán bộ quan trắc phải làm việc trong mọi điều kiện thời tiết. Có khi mưa dầm gió bấc, có khi nắng gắt cháy da, lại có những đêm đông rét cắt thịt, họ vẫn phải đúng giờ ra vườn máy, tay run rẩy cầm đèn dầu soi từng thang đo, kiên nhẫn ghi lại từng con số trong cuốn sổ quan trắc, dù sương đêm làm nhòe mực, gió thổi bay giấy hay mưa rào bất chợt làm ướt nhẹp cả trang sổ. Đôi bàn tay tê cứng trong giá lạnh vẫn phải điều chỉnh cẩn thận nhiệt kế để đọc số liệu chính xác rồi vội vã trở về kịp giờ phát báo, còn những ngày nắng hè chang chang, nhiệt độ hầm hập như lửa, mồ hôi ướt đẫm áo, các quan trắc viên vẫn lặng lẽ đi qua từng hạng mục, bởi họ hiểu rằng chỉ một sai lệch nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống dữ liệu khí tượng.
Sau Cách mạng Tháng Tám, miền Bắc được giải phóng, ngày 01/01/1957, Trạm Khí tượng Cao Bằng được khôi phục trở thành trạm hạng I, phát báo quốc tế với đầy đủ máy móc và hạng mục quan trắc. Những năm tháng này vẫn đầy thử thách khi đất nước còn bộn bề khó khăn, nhưng cán bộ trạm vẫn ngày đêm thay nhau trực, nắng cũng như mưa, để kịp thời gửi bản tin về Trung ương. Trong kháng chiến chống Mỹ, công việc khắc nghiệt hơn, từ năm 1965 đến 1970, trạm phải quan trắc tới 24 lần trong một ngày đêm để phục vụ không quân, nghĩa là cứ một tiếng lại ra vườn máy, bất kể trời tối hay sáng, mưa dông hay giá lạnh, không một ca nào được bỏ. Đêm mất điện, cán bộ phải dùng đèn bão, đèn dầu leo lét vẫn đều đặn ghi số liệu rồi đánh máy phát báo. Hàng rào quanh trạm được sơn màu xanh lá cây để ngụy trang trước máy bay địch. Từ năm 1964, trạm còn đảm nhiệm thêm việc thả bóng thám không (PILOT) vào 7 giờ sáng và 19 giờ tối, một công việc vừa gian nan vừa nguy hiểm, nhất là trong giá rét căm căm của núi rừng biên giới.
Năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ, ngày 17/2 thị xã Cao Bằng bị đánh chiếm, nhưng cán bộ trạm vẫn kiên cường duy trì quan trắc đến 7 giờ sáng ngày 21/2 mới buộc phải ngừng và di tản xuống Ngân Sơn. Trong cảnh bom đạn hiểm nguy, họ vừa lo bảo vệ an toàn máy móc, hồ sơ, vừa gồng mình giữ mạch số liệu. Chỉ vài tháng sau, ngày 21/7/1979, trạm đã khôi phục trở lại, phát báo đều đặn như chưa từng gián đoạn, thể hiện tinh thần kiên định và trách nhiệm của những người “gác trời” nơi biên cương.
Hơn một thế kỷ qua, Trạm Khí tượng Cao Bằng đã ghi nhận nhiều trị số khí tượng lịch sử: nhiệt độ cao nhất 40,6°C vào ngày 06/5/2023, thấp nhất -0,5°C vào ngày 18/1/1961; độ ẩm thấp nhất 12% vào ngày 20/3/1986; lượng mưa năm lớn nhất 2.081,8mm vào năm 2008, nhỏ nhất 997,5mm vào năm 1964; lượng mưa ngày lớn nhất 212,2mm vào ngày 25/9/2008; hay tốc độ gió cực đại 40m/s vào ngày 29/4/1983. Những con số này không chỉ phản ánh khí hậu khắc nghiệt của vùng núi Đông Bắc mà còn là minh chứng cho mồ hôi, công sức và cả sự hy sinh thầm lặng của nhiều thế hệ quan trắc viên.
Ngày nay, Trạm Khí tượng Cao Bằng đã được trang bị thêm nhiều thiết bị hiện đại, hệ thống quan trắc tự động góp phần giảm tải công việc, song đằng sau những dữ liệu truyền về hệ thống vẫn luôn là sự tận tâm, bền bỉ và trách nhiệm của những con người lặng lẽ canh trời. Họ là những người mà công việc ít ai biết đến, nhưng lại góp phần quan trọng bảo vệ an toàn cho nhân dân, cho sản xuất và cho sự phát triển bền vững của quê hương Cao Bằng cũng như cả nước.
Trạm Khí tượng Cao Bằng – một thế kỷ bền bỉ giữa mưa nắng, gió sương chính là biểu tượng của lòng tận tụy, kiên cường và trách nhiệm, góp phần làm nên truyền thống vẻ vang của ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam.
Một số hình ảnh của Trạm Khí tượng Cao Bằng:




Nguồn: